 |
| Thủ thành Iker Casillas (Tây Ban Nha),
nhận được 41 % phiếu bầu. Khác với trận ra quân thua Thụy Sỹ, sáu trận
còn lại trên con đường đưa Tây Ban nha lên ngôi vương, Casillas chơi
tuyệt hay. Anh đã cản phá thành công một quả phạt đền trong trận tứ kết
với Paraguay, trước khi hai lần chiến thắng Arjen Robben trong thế đối
mặt ở trận chung kết. |
 |
| Hậu vệ phải Sergio Ramos (Tây Ban Nha).
Không chỉ hoàn thành tốt khâu phòng ngự, ngôi sao đang khoác áo Real
Madrid còn rất mạnh trong những tình huống băng lên. Nếu may mắn hơn
anh ít ra đã có một bàn thắng trong trận chung kết. Ramos nhận được
trên 30 % phiếu bầu. |
 |
| Trung vệ Carles Puyol (Tây Ban Nha).
Cái tuổi 32 có vẻ như không thể làm suy giảm khả năng phán đoán tình
huống và đánh phá của Puoyl. Thậm chí kinh nghiệm còn là thứ vũ khí đặc
biệt lợi hại giúp anh thành công trong nhiều tình huống tranh chấp nhạy
cảm. Puyol còn là tác giả của bàn thắng duy nhất đem lại chiến thắng
1-0 trước Đức ở bán kết. |
 |
| Trung vệ Lucio (Brazil).
Đội tuyển vàng-xanh chỉ đi đến tứ kết nhưng không phải tất cả cầu thủ
của họ đều chơi dở - điển hình là Lucio. Trên 31 % độc giả của FIFA
đồng tình với quan điểm này khi bầu chọn cho trung vệ đang chơi cho
Inter. |
 |
| Hậu vệ trái Phillip Lahm (Đức).
Anh là cầu thủ duy nhất còn sót lại trong đội hình tiêu biểu của World
Cup 2006. Khi đó anh đã chơi tuyệt hay bên hành lang trái, còn năm nay
dù chuyển sang vị trí đối diện ngôi sao của Bayern Munich vẫn hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ. Lahm nhận được gần 44 %. |
 |
| Tiền vệ Wesley Sneijder (Hà Lan).
Với năm bàn thắng và một lối chơi có tầm ảnh hưởng đến toàn đội,
Sneijder thực sự là ông chủ ở tuyến giữa của đội á quân. Số phiếu bầu
của anh (trên 60 %) chỉ đứng thứ hai sau David Villa. |
 |
| Tiền vệ Xavi (Tây Ban Nha).
Di chuyển nhiều nhất (80,2 km), tung ra nhiều đường chuyền nhất (669)
và đạt tỷ lệ thành công cao nhất (81 %), từng đó là quá đủ để nói về
vai trò của Xavi trong lối chơi kỹ thuật một chạm đặc trưng của Tây Ban
Nha. |
 |
| Tiền vệ Bastian Schweisteiger (Đức). Anh gần như là "người không phổi" của Đức tại giải năm nay, với phạm vi hoạt động rộng gồm cả công lẫn thủ. |
 |
| Tiền vệ Andres Iniesta (đen, Tây Ban Nha).
Tương tự như ở Barca, nhắc đến Xavi thì không thể bỏ qua Iniesta. Và
điểm nhấn lớn nhất của anh chính là cú dứt điểm hoàn hảo tung lưới Hà
Lan ở hiệp phụ thứ hai trận chung kết. |
 |
| Tiền đạo Diego Forlan (Urguguay). Dù bất ngờ nhưng không phải vô cớ mà Forlan được FIFA bình chọn là Cầu thủ xuất sắc của World Cup 2010.
Bên cạnh 5 bàn thắng, anh còn là tác giả của nhiều đường chuyền thành
bàn và là nguồn cảm hứng dạt dào đưa Uruguay vào đến bán kết. |
 |
| Tiền đạo David Villa (Tây Ban Nha).
Puyol đã đưa Tây Ban Nha vào chung kết, Iniesta là người giúp Tây Ban
Nha lên đỉnh vinh quang nhưng những điều đó sẽ không thể xảy ra nếu
thiếu Villa. Anh là người vực dậy hy vọng bằng hai bàn thắng trong trận
gặp Honduras, ghi bàn mở tỷ số trong trận cuối cùng vòng bảng gặp
Chile. Tân binh của Barca sau đó đưa Tây Ban Nha vượt qua Bồ Đào Nha ở
vòng 16 bằng pha làm bàn duy nhất, và tái lập điều tương tự tại tứ kết
gặp Paraguay. |
 |
| HLV Vicente Del Bosque (Tây Ban Nha).
Nhiều ý kiến cho rằng Del Bosque may mắn có một dàn cầu thủ đồng đều và
kiệt xuất, nhưng điều đó không có nghĩa là chức vô địch của Tây Ban Nha
thiếu dấu ấn chiến thuật của ông. Việc Del Bosque mạnh dạn dẹp bỏ công
thần Fernando Torres để nhường chỗ cho một Pedro trẻ trung ở bán kết
với Đức là một minh chứng. |